Khởi nguồn của Niệm Châu trong Phật Giáo và Vòng Hạt Phong Thuỷ ngày nay

Vòng Tay Đá Mặt Hổ Vàng ( VTMHV12075 )
Khởi nguồn của Niệm Châu trong Phật Giáo và Vòng Hạt Phong Thuỷ ngày nay
5 (100%) 1 vote[s]

Niệm châu còn gọi là sổ châu, tràng hạt, Phật châu, chỉ số lượng hạt ngọc nhất định được xâu vào một sợi dây. Đó là pháp cụ mang bên mình của người tu hành khi xưng danh niệm phật hoặc trì chú.

Niệm châu trong nguyên văn tiếng Phạm có 4 nghĩa:

  1. Pasaka-mala, phiên âm là “bát tắc mạc”, nghĩa là “đếm số hạt châu”.
  2. Aksa-mala, phiên âm là “a xoa ma la”, nghĩa là “tràng hạt châu”.
  3. Japa-mala, phiên âm là “tra ba ma la”, nghĩa là “niệm tụng niệm châu”.
  4. Aksa-sutra, phiên âm là “a xoa tu đa la”, nghĩa là “niệm tụng niệm châu”.

Trong tiếng phạn, “mala” nghĩa là tràng, chuỗi.

Nguồn gốc cổ xưa nhất của niệm châu, vốn do người Ấn Độ thích làm đẹp nên có tục lệ quàng chuỗi ngọc trên thân. Tục lệ này dần dần diễn biến thành niệm châu được sử dụng ở đời sau.

Xem thêm:

[porto_blockquote]

Phật nói với Ba Lưu Ly – Vương rằng. “Nếu như nhà vua muốn diệt phiền não chướng, báo chướng, hãy xâu một chuỗi tràng 108 hạt bằng hạt cây tra (mộc hoạn tử) và thường mang bên mình. Khi đi, ngồi hay thường nên chuyên tâm nhất trí, không phân tán ý, xưng danh hiệu Phật Đà, Đạt Ma, Tăng già, mỗi lần lần qua một hạt cây tra. Cứ như vậy, lần lượt qua hạt này đến hạt khác, như: 10 hạt, 20 hạt, 100 hạt, 1.000 hạt, rồi đến trăm nghìn vạn hạt. Nếu lần lượt đủ 20 vạn lượt, thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc, khi chết được đầu sinh lên cõi Diệm Thiên thứ ba. Lên đấy, y, thực tự nhiên, thường an lạc hạnh. Nếu như có thể lần đủ 100 vạn lượt, sẽ đoạn trừ được 108 kết nghiệp. Như vậy, mới chứng được quả Tu Đà Hoàn (Srotapanna-phala : nghịch lưu nghĩa là ngược dòng sinh tử), hướng đến tạo niết bàn, dứt hẳn cội gốc phiền não, đắc quả vô thượng”.

Nhà vua vui mừng, từ xa hướng về Thế Tôn, kính lễ Phật và bạch rằng: “Quý hóa thay! con sẽ phụng hành y như lời Đức Thế Tôn dạy”. Lễ rồi ban sắc sai làm niệm châu bằng hạt cây tra, làm 1.000 chuỗi niệm châu. Lục thân quốc thích đều cho mỗi người một chuỗi. Từ đó, nhà vua thường xuyện tụng niệm, mặc dù thân coi việc quân lữ, nhưng chưa từng cất hay bỏ chuỗi niệm châu đi.

Trong kinh điển phật giáo, liên quan đến nguồn gốc của niệm châu, thường căn cứ vào lời thuyết pháp khai thị của đức Phật đối với vua Ba Lưu Ly được ghi chép trong Mộc hoạn tử kinh. Kinh văn ghi chép rằng:

Đại ý của kinh văn: Phật Đà nói với vua Ba Lưu Ly xâu hạt cây tra với số lượng nhất định, làm thành công cụ phù trợ luôn mang bên mình. Khi đi, đứng, ngồi đều niệm tụng danh hiệu Tam bảo và dựa vào đó để nhiếp trì tâm niệm. Khiến cho tâm chuyên chú, dần dần đạt đến “thân tâm không tán loạn, không có những siểm khúc”, sau khi chết có thể được vãng sinh ở nơi tốt đẹp, dứt hẳn phiền não, đắc quả Phật vô thượng.

Vua Ba Lưu Ly sau khi nghe Phật Đà khai thị, bắt đầu dùng hạt cây tra để làm thành niệm châu, trì niệm danh hiệu “Tam bảo”, dùng để tiêu trừ phiền não chướng và báo chướng. Đây chính là nguồn gốc xưa nhất của niệm châu trong phật giáo.

[porto_block id=”6040″ name=”cta-vong-tay”]

Niệm châu là một pháp cụ quan trọng của đệ tử phật giáo. Nhưng quay ngược về nguồn gốc, niệm châu không phải do Phật giáo sáng tạo ra. Trong Bà La Môn giáo của Ấn Độ cổ cũng có ví dụ chứng minh. Trên bức tượng “Phật Đà Ca Da Dạ Xoa Nữ” có niên đại 1 thế kỷ trước công nguyên. Hiện nay được lưu giữ tại bảo tàng khảo cổ học ở thành phố Bodhgaya, Ấn Độ có đeo vòng cổ giống như niệm châu. Như ở trên đã nói, niệm châu vốn được sử dụng bắt nguồn từ truyền thống người Ấn Độ cổ thích làm đẹp bằng cách đeo vòng hoa. Từ khía cạnh nguồn gốc ngôn ngữ, tiếng Phạn của từ “kinh” và tiếng Phạn của “chuỗi niệm châu” đều có chung một gốc từ “satra”, nghĩa gốc của nó là “xâu chuỗi”. Đệ tử Phật giáo Ấn Độ cổ cho rằng, cánh hoa nhiều cần phải dùng dây xâu lại mới không bị gió thổi tung. Tương tự, lời dạy của Phật Đà cũng cần phải tụ hợp lại mới không bị tán lạc mất, để lưu truyền cho đời sau. Vì vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng, dùng dây xâu chuỗi hạt cây tra làm niệm châu. Ý nghĩa bao hàm: Nhiếp trì tất thảy tâm niệm, khiến cho chúng không tán lưu vào cõi ác. Nhưng trong luật bộ kinh điển của Phật giáo, đối với niệm châu chưa có bất cứ ghi chép nào. Hơn nữa, đệ tử Phật giáo Nam truyền lấy luật bộ kinh điển làm chỗ dựa cũng chưa từng lưu hành niệm châu. Điều này cũng giống như đạo lý “hoa nở trong tường, ngoài tường thơm ngát”. Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ mà phát triển hưng thịnh ở Trung Thổ. Niệm châu tuy không phải do phật giáo sáng tạo ra, nhưng bởi vì được trồng ở trong mảnh đất màu mỡ của Phật giáo nên mới trở thành pháp cụ quan trọng được các tăng ni, Cư sĩ Hán Tạng, Mông Cổ ở Trung Quốc và Nhật Bản, Hàn Quốc hiện nay luôn mang theo bên mình.

Ở Trung Quốc, người dân biết đến tên gọi niệm châu sớm nhất bắt đầu từ khi Mộc hoạn tử kinh được phiên dịch vào thời Đông Tấn (năm 327 – 420), chỉ đáng tiếc tên tuổi người dịch hiện nay không rõ. Nhưng chúng ta có cơ sở để tin rằng: vào thời Lưỡng Tấn (Đông Tấn, Tây Tấn) hoặc là sớm hơn, từ việc khai thông con đường tơ lụa và đường biển, dần dần tăng thêm sự giao lưu giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây. Đương thời, các tăng lữ và dân thường ở Tây vực sang Trung Hoa rất đông, trong đó ắt có người mang niệm châu đến.

Đến thời Đường, trong bối cảnh thời đại Phật giáo hưng thịnh, kinh điển ghi chép về niệm châu được lưu truyền, dịch thuật rộng rãi. Ví dụ như, rất nhiều kinh điển: Đà la ni tập kinh do tăng nhân Tây vực A Địa Cù Đa dịch, Hiệu lượng sổ châu công đức kinh do Bảo Tư Duy dịch, Kim cương đỉnh Du già niệm châu kinh do Sa môn Tam Tạng Bất Không dịch, Mạn Thù Thất Lợi chú tạng trung hiệu lượng sổ châu công đức kinh do Sa môn Tam Tạng Nghĩa Tịnh dịch…

Vòng tay Đá Mắt Hổ Vàng
Vòng tay Đá Mắt Hổ Vàng

Tiếp đến, niệm châu bắt đầu được lưu truyền rộng rãi khắp trong tăng nhân, người thường, từ trên xuống dưới, từ triểu đình đến nơi thôn dã. Ví như ghi chép trong Cựu Đường thư – Lý Phụ Quốc truyện:

“Lý Phụ Quốc không ăn mặn, thường làm theo tăng, lúc nhàn rỗi, tay cầm niệm châu, mọi người đều tin, coi người đó là tốt”.

Trong Tục cao tăng truyện – Đạo Xước truyện cũng có ghi chép tương tự:

” Mọi người đều lần niệm châu, miệng niệm phật hiệu, mỗi khi kết thúc, vang vọng cả núi rừng”.

Về mặt hiện vật còn lưu giữ được, trong cuộc khai quật ở hang Mạc Cao, Đôn Hoàng, Cam Túc, bảo tồn được một pho tượng Bồ Tát Di Lặc được nặn vào thời kỳ năm 304-439 trên cổ có đeo niệm châu. 16 vị La Hán trong tác phẩm Pháp Trụ Ký do Đường Huyền Trang dịch. Trong đó, vị La Hán thứ 13 tôn giả Nhân Yết Đà trong tư thế tay lần niệm châu. Cho đến pháp tướng của Pháp sư Huyền Trang khi còn sống trên thân cũng đeo niệm châu. Ngoài ra, ở Nhật Bản bảo tồn được một quyển sách mang tên Phật tượng đồ giám, trong đó có vẽ hình cao tăng triều Đường có sự dụng niệm châu.

Có thể khẳng định, từ triều đường về sau, người Trung Quốc sử dụng niệm châu đã tương đối phổ biến.


Khởi nguồn của Niệm Châu trong Phật Giáo và Vòng Hạt Phong Thuỷ ngày nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *