Cơ sở lý thuyết của Phong Thủy

Quy luật Âm Dương trong Phong Thủy
Cơ sở lý thuyết của Phong Thủy
5 (100%) 1 vote[s]

1.     Học thuyết âm dương

Từ rất xa xưa người ta đã từng biết đến mọi sự vật hiện tượng đêu có tính chất mâu thuẫn đối nghịch nhưng lại thống nhất với nhau, không ngừng vận động và biến hoá, sinh ra lớn lên và diệt vong. Người ta gọi sự mâu thuẫn đó là Âm và Dương. Từ đó học thuyết Âm Dương ra đời, cho dù nhìn ở góc độ nào thì các quan niệm về mâu thuẫn đối kháng và thống nhất đều không có gì thay đổi. Về cơ bản thuyết Âm Dương của triết học phương Đông vẫn có thể áp dụng để lý giải các sự vật hiện tượng mà không mâu thuẫn với khoa học hiện đại.

Âm Dương là khởi đầu của mọi thuyết trong triết học cổ Trung Hoa. Nó chỉ là hình tượng mà không phải là sự vật cụ thể (âm dương hữu tượng vô hình). Nó chỉ là sự biểu hiện cuả hai vấn đề mâu thuẫn và thống nhất. Theo thuyết Âm Dương, từ thuở hỗn mang, mọi thứ là vô cực chưa có gì cả sau đó mới sinh ra thái cực, thái cực mới sinh ra lưỡng nghi đó là Âm và Dương, tahí cực động sinh ra Dương, thái cực tĩnh sinh ra Âm. Âm Dương được phân ra tiên thiên và hậu thiên.

Âm Dương tiên thiên: khi bắt đầu sinh ra thì âm ở ngoài, dương ở trong, âm ở trên dương ở dưới như vậy thì âm dương mới giao nhau mà sinh ra biến hoá.

Âm Dương hậu thiên: sau khi sự vật đã hình thành thì dương ở ngoài, âm ở trong, dương ở trên âm ở dưới. Âm ở trong dể giữ gìn cho dương, dương ở ngoài để giúp đỡ cho âm.

Âm và Dương thể hiện trong các sự vật hiện tượng tuân theo các quy luật: đối lập, hỗ căn, tiêu trưởng, chuyển hoá và bình hành.

Âm Dương đối lập (chế ước và đấu tranh): Âm và Dương là hai hình thái đối lập nhau, biểu hiện sự mâu thuẫn. Dương là thực, Âm là hư, dương thuộc ngày, âm thuộc về đêm, dương là động, âm là tĩnh, dương là lẻ âm là chẵn, … Tóm lại âm và dương biểu hiện hai tính chất đối kháng của mỗi sự vật, hiện tượng mà dương là những tính chất động, âm là những tính chất hư.

Âm Dương hỗ căn (Nương tựa để tồn tại): Âm Dương tuy đối lập nhưng lại nương tựa vào nhau gọi là hỗ căn. Thể hiện tính thống nhất. Âm dương phải có nhau mới cùng tồn tại. Dương bao bọc cho Âm, Âm giữ gìn cho Dương. Không có âm thì là cô dương vạn vật bất sinh (không thể sinh ra). Không có dương thì là cô âm vạn vật bất trưởng (không phát triển được). Cho nên trong âm có dương trong dương có âm. Âm thịnh thì sinh ra thiếu dương, dương thịnh thì sinh ra thiếu âm.

Âm dương tiêu trưởng (Vận động để chuyển hoá): Tiêu là mất đi, trưởng là lớn lên. Tiêu trưởng là nói lên sự vận động chuyển hoá không ngừng của sự vật hiện tượng. Âm tiêu thì dương trưởng, dương tiêu thì âm trưởng cứ như vậy vận động không ngừng. Khi dương thịnh đến cực độ thì chuyển sang âm, âm thịnh đến cực độ thì chuyển sang dương.

Âm dương bình hành (Đối lập mà quân bình): Âm và dương tuy đối lập nhưng lại hỗ căn và luôn luôn chuyển hoá vì thế mà sinh ra vạn vật, là nguồn gốc của muôn loài. Sự vật hiện tượng sinh ra, lớn lên và mất đi là sự vận chuyển của âm dương. Sự vật tồn tại được là do sự quan bình của âm dương, sự tồnn tại đồng thời của cả hai mặt đối lập. Vì thế khi xét đến một sự vật hiện tượng nào đó ta đều thấy sự hiện diện của cả âm và dương.

Cơ sở lý thuyết của Phong Thủy
Cơ sở lý thuyết của Phong Thủy

2. Học thuyết ngũ hành

Trong quá trình chuyển hoá của âm dương, vạn vật cùng dung nạp và chế khắc mà sinh ra 5 loại vật chất cơ bản đó là Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ. Ngũ hành biểu hiện sự vận động không ngừng, tác động qua lại của vật chất trong thiên nhiên đưa đến sự biến hoá của vạn vật.

Ngũ hành vừa tương sinh vừa tương khắc lại thêm tính tương thừa tương vũ thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ của vạn vật.

Theo vận khí thì ngũ hành có sinh khắc tạo nên sự quân bình gọi là bình khí. Như vậy thì vạn vật ổn định, phát triển. Khi đó mộc được gọi là phu hoà có nghĩa là mộ phân phối khí ôn hoà làm cho vạn vật phát triển. Hoả gọi là thăng minh sáng chói mà có cái khí tịnh trưởng làm cho vạn vật dồi dào. Thổ gọi là bị hoá đầy đủ khí hoá sinh vạn vậ làm cho vạn vật được đầy đủ hình thể. Kim gọi là thẩm bình phát ra khí yên tĩnh hoà bình làm cho vạn vật có kết quả. Thuỷ gọi là tĩnh thuận có cái khí tĩnh hoà thuận làm cho vạn vật bế tàng. Khi sự tương khắc không bình thường dẫn đến hiện tượng thái quá hoặc bất cập và đều là không tốt. Sự thái quá tạo nên tương thừa, sự bất cập tạo nên tương vũ.

Khi thái quá Mộc được gọi là phát sinh khuếch tán khí ôn hoà quá sớm làm cho vạn vật sớm phát dục. Hoả gọi là hách hy khuếch tán hoả khí quá mãnh liệt làm vạn vật bị đốt cháy chẳng yên. Thổ gọi là đơn phụ khí nồng hậu quá rắn chắc làm cho vạn vật không thể thành hình được. Kim gọi là kiên thành có khí cứng làm vạn vật nagy thẳng mà dễ gẫy. Thuỷ gọi là lưu diễn có khí đầy tràn làm cho vạn vật phiêu lưu không thể về chỗ.

Khi bất cập, Mộc gọi là uỷ hoà không có đủ khí ôn hoà làm cho vạn vật rũ rượi không phấn chấn. Hoả gọi là phục minh ít khí ấm áp làm cho vạn vật ảm đạm không sáng. Thổ gọi là ty giám không có khí hoá sinh làm cho vạn vật yếu ớt không có sức. Kim gọi là tòng cách không có khí cứng cỏi làm cho vạn vật mềm giãn ra. Thuỷ gọi là hạc lưu không có khí phong tàng dấu kín làm vật vật khô queo.

1. Ngũ hành bao gồm: Kim, Thuỷ, Mộc, Hoả, Thổ

  • Kim: vàng, tất cả các kim loại
  • Thuỷ: nước, chất lỏng nói chung
  • Mộc: gỗ, các loại cây
  • Hoả: lửa, hơi nóng
  • Thổ: đất, nói chung cả các khoáng vật

2. Ngũ hành tương sinh

  • Kim sinh Thuỷ: Kim chảy ra thành nước
  • Thuỷ sinh Mộc: Cây nảy mầm được nhờ nước
  • Mộc sinh Hoả: Gỗ cháy thành lửa
  • Hoả sinh Thổ: Lửa cháy song thành tro bụi trở thành đất
  • Thổ sinh Kim : Trong long đất chứa kim loại

3. Ngũ hành tương khắc

  • Kim khắc Mộc: dao chặt được cây cương thắng nhu
  • Mộc khắc Thổ : cây mọc lấn đất tụ thắng tán
  • Thổ khắc Thuỷ: đất chứa được nước thực thắng hư
  • Thuỷ khắc Hoả : nước dập được lửa chúng thắng cô
  • Hoả khắc Kim : lửa nung chảy kim loại tinh thắng kiên

4. Ngũ hành tương thừa

Thừa: thừa thế lấn át = Sự khắc thái quá. Hành này khắc hành kia thái quá thì là tương thừa.

5.  Ngũ hành tương vũ:

Vũ: khinh nhờn = Sự khắc bất cập. Hành này không đủ khắc hành kia thì dẫn tới tương vũ

6. Ngũ hành thuộc màu sắc

  • Kim: màu trắng
  • Thuỷ: màu đen
  • Mộc: màu xanh
  • Hoả: màu đỏ.
  • Thổ: màu vàng

7. Thiên can nạp ngũ hành

  • Giáp, Ất thuộc mộc
  • Bính, Đinh thuộc hoả
  • Mậu, Kỉ thuộc thổ
  • Canh, Tân thuộc kim
  • Nhâm, Quý thuộc thuỷ

6. Địa chi nạp ngũ hành

  • Hợi, Tý thuộc Thuỷ
  • Dần, Mão thuộc Mộc
  • Tị, Ngọ thuộc Hoả
  • Thân, Dậu thuộc Kim
  • Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ

7. Ngũ hành thuộc tính nết, tướng mạo

  • Mộc: dáng gầy, hơi cao tính hay thương người
  • Hoả : dáng trên nhỏ, dưới to, tính nóng dễ thích nghi
  • Thổ : dáng đậm đà, to béo, tính đôn hậu hay tín ngưỡng
  • Kim : Tướng mạo thanh tú
  • Thuỷ: hình dáng lả lướt, mi mắt to và thô

8. Ngũ hành thuộc bốn mùa

  • Mùa xuân thuộc Mộc: tháng dần (tháng giêng), tháng mão (tháng hai)
  • Mùa hè thuộc Hoả: tháng tị (tháng tư), tháng ngọ (tháng năm)
  • Mùa thu thuộc Kim: tháng thân (tháng 7), tháng dậu (tháng 8)
  • Mùa đông thuộc Thuỷ: tháng hợi (tháng 9), tháng tý (tháng 11)
  • Tứ quý thuộc Thổ: tháng thìn (tháng 3), tháng mùi (tháng 6), tháng tuất (tháng 9), tháng sửu (tháng 12)

10. Ngũ hành thuộc phương hướng

  • Phương đông thuộc Mộc
  • Phương tây thuộc Kim
  • Phương nam thuộc Hoả
  • Phương bắc thuộc Thuỷ
  • Tại ở giữa thuộc Thổ

 Từ học thuyết âm dương ngũ hành, còn ứng dụng thêm một số lý thuyết khác nữa như:

– Hà đồ – lạc thư

– Lịch pháp, thiên văn, nhân mệnh v.v…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *